Phân tích hóa thạch mối từ hàng triệu năm

Phân tích hóa thạch mối từ hàng triệu năm

Phân tích 1 con mối bị chôn vùi hàng 100 triệu năm trong hổ phách đã chứng tỏ một ví dụ cổ xưa nhất về “thuyết hỗ sinh” được khám phá giữa 1 loài động vật và một loại vi sinh vật. Khám phá này là của George Poinar, 1 nghiên cứu viên của trường Đại học Oregon State và là một chuyên viên quốc tế về các dạng sống được tìm thấy trong những mảnh hổ phách. Công trình được giới thiệu trên tạp chí chuyên nghành “Động vật ký sinh và các vectơ”.

Loài mối đặc biệt này có thể đã bay giao hoán trong rừng nhiệt đới ẩm ướt ở Miama trong đầu kỷ Cretaceous – cùng tuổi với khủng long. Nó có thể đã bị tấn công bởi một con chim hoặc vì lý do nào đó còn chưa rõ và đã rơi vào trong chất sáp dính rỉ ra từ cây mà sau này trở thành hổ phách, tạo ra một cơ hội tiết lộ những bí mật về sinh học côn trùng cổ xưa theo một cách mà những cách khác không thể làm đươc.

Bên ngoài vết thương ở bụng của con mối chảy ra 1 loạt các động vật nguyên sinh, nhóm sinh vật giữ một chức năng quan trọng đối với mối là giúp chúng tiêu hoá được gỗ. Giữa động vật và vi sinh vật, đây là một ví dụ xa xưa nhất về bằng chứng của thuyết hỗ sinh, là một trong những loại hình quan hệ cộng sinh mà trong đó 2 loài giúp đỡ lẫn nhau.

Mối sống dựa vào cenlulo, chủ yếu từ những loài thực vật chết, nhưng chúng lại phụ thuộc vào động vật nguyên sinh ở trong ruột để tạo ra những enzim tiêu hoá gỗ. Poinar nói “Các động vật nguyên sinh này sẽ chết khi ở bên ngoài cơ thể mối và mối sẽ chết đói nếu không có động vật nguyên sinh để hỗ trợ chúng trong quá trình tiêu hoá. Trong trường hợp này, chúng dựa vào nhau để tồn tại”.

Thậm chí nhiều loài mối cổ xưa có thể đã ăn những cái mà chúng có thể tự tiêu hoá được, nhưng cuối cùng chúng đã có được động vật nguyên sinh, nhờ đó làm tăng đáng kể khả năng tiêu hoá cenlulo của chúng và trải qua quá trình tiến hoá, chúng đã trở nên hoàn toàn phụ thuộc vào nó.

Ngày nay các loài mối hiên đại là một trong những nhóm côn trùng phân bố rộng nhất và thành công nhất trên thế giới, với hơn 2300 loài đã biết, chủ yếu sống ở vùng nhiệt đới, tích cực vơi việc tiêu thụ gỗ bằng cách nhờ vào động vật nguyên sinh. Chúng đóng vai trò quan trọng trong hệ sinh thái, giúp cải tạo môi trường, làm cho đất trở nên mầu mỡ, tái sinh dinh dưỡng và làm thức ăn cho nhiều loài động vật khác. Với tư cách là một dạng côn trùng xã hội giống như kiến, một số đàn mối có thể lên tới hơn 20 triệu cá thể. Chúng cũng là nguyên nhân gây ra những thiệt hại lớn về kinh tế ở nhiều nơi trên thế giới do phá huỷ gỗ. Sự phụ thuộc của mối vào động vật nguyên sinh ngày nay đã được biết khá rõ.

Đâu đó trong phạm vi tiến hoá, mối ban đầu tạo ra một loại dịch có chứa các động vật nguyên sinh. Các con cháu của chúng sẽ lần lượt tiêu thụ phân của chúng và nhờ vậy đã thu được nhóm động vật nguyên sinh này vào hệ tiêu hoá của chúng.

Những nghiên cứu đã chỉ ra rằng, chúng đã phải mất một thời gian khá dài có tất cả những điều này. Sự thiết lập thành công mối quan hệ công sinh của nguyên sinh động vật trong cơ thể mối đòi hỏi chúng phải chống chịu được các điệu kiện vật lý, hoá học bên trong đường tiêu hoá của mối. Sử dụng các chất chứa trong ruột như là một nguồn dinh dưỡng mà không gây hại cho vật chủ qua các giai đoạn và thế hệ nối tiếp nhau.

Tuy nhiên, bằng cách bên sẽ chuyên hoá một việc mà chúng có thể làm tốt nhất – mối ăn gỗ và động vật nguyên sinh tiêu hóa- cả hai nhóm đã đạt được thanh công đáng kinh ngạc trong tiến hoá.

Mối quan hệ giữa mối và động vật nguyên sinh rất chăt chẽ và được duy trì ổn định trong một thời gian rất dài bởi giá trị hiển nhiên của nó. Poinar nói “Thật thú vị khi biết được rằng ví dụ kinh điển của thuyết hỗ sinh này vẫn đang tiếp diễn cho đến nay kể từ cách đây ít nhất 100 triệu năm ”.

Poinar đã nghiên cứu về các dạng sống và vật liệu khác được tìm thấy trong các mẩu hổ phách trong nhiều năm. Với tư cách là một loại bán đá quý khởi nguồn từ một loại sáp được rỉ ra từ cây, hổ phách có một khả năng tuyệt vời trong việc bẫy các động vật nhỏ hoặc các vật chất khác – như là một trạm ướp xác thiên nhiên- hiển thị chúng trong một trạng thái 3 chiều gần như hoàn hảo cho tới hàng triệu năm sau. Hiện tượng phi thường này là vô giá trong nghiên cứu về khoa học và sinh thái học, chúng cho phép các nhà nghiên cứu mô tả các vấn đề sinh học của hệ sinh thái đã tồn tại cách đây hàng triệu năm.

Theo Internet